Nhiều ngành của Việt Nam có năng suất lao động cao hơn Hàn Quốc

 

Đột phá của năng suất lao động Việt Nam

Tại Chương trình Đối thoại Chính sách "Tăng năng suất lao động cho Việt Nam" do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) với sự hỗ trợ của Viện Konrad-Adenauer Stiftung (KAS) tổ chức ngày 26/9, ông Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng VERP cho biết, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có xu hướng suy giảm sớm trong khi thu nhập bình quân đầu người của nước ta vẫn ở mức rất thấp. Sự sụt giảm trong năng suất lao động là nguyên nhân làm giảm sút tăng trưởng GDP của Việt Nam từ sau năm 2005 đến năm 2013.

Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinh tế và Chính sách cho biết, mặc dù duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao, nhưng năng suất lao động của Việt Nam vẫn ở mức thấp khi so sánh với năng suất lao động bình quân của các nhóm quốc gia phân chia theo thu nhập.

Năm 2017, năng suất lao động của Việt Nam gấp 2 lần năng suất lao động trung bình của nhóm nước thu nhập thấp, bằng hơn 50% nhóm nước thu nhập trung bình thấp và bằng 18,3% nhóm các nước thu nhập trung bình cao. và bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bất động sản, cung cấp nước.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có năng suất lao động chưa cao. Còn ngành nông lâm và thủy sản vẫn nằm trong số các ngành có mức năng suất lao động thấp nhất nền kinh tế.

Theo ông Thành, năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam hầu hết ở mức gần hoặc thấp nhất trong tương quan so với các nước so sánh. Theo đó, năng suất lao động Việt Nam thấp nhất và xếp sau Campuchia ở ba ngành là công nghiệp chế biến, chế tạo, xây dựng, vận tải, kho bãi, truyền thông.

Năng suất lao động của Việt Nam thấp thứ hai, chỉ cao hơn Campuchia ở các nhóm ngành nông nghiệp, điện, nước, khí đốt, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa.

Tuy nhiên, đột phá lớn nhất của năng suất lao động Việt Nam là các ngành: Bất động sản và dịch vụ văn phòng; Khai mỏ và khai khoáng; Dịch vụ cộng đồng xã hội, cá nhân.

Năng suất lao động của các nhóm ngành trên Việt Nam đứng thứ 4 trong các nền kinh tế ở châu Á, đứng sau Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc, xếp trên cả Hàn Quốc, Malaysia, Campuchia.

Ông Thành cho rằng: "Nếu Việt Nam có thể mở rộng thị trường quốc tế nhanh hơn nữa cho các ngành có năng suất lao động cao thì hiệu ứng này sẽ bớt ảnh hưởng, giống như trường hợp của Trung Quốc".

FDI chủ yếu đầu tư vào công nghiệp chế biến

Đưa ra vai trò của đầu tư nước ngoài (FDI) đối với tăng trưởng năng suất lao động, ông Lê Văn Hùng – Viện kinh tế Việt Nam cho rằng, khu vực FDI giữ vai trò quan trọng đóng góp vào tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam.

Số liệu giai đoạn 2006 – 2016, kết quả tính toán cho thấy, đóng góp vào tăng trưởng năng suất lao động bình quân hàng năm của khu vực FDI đứng thứ 2 (29,3%).

Tuy nhiên, theo ông Hùng, đóng góp của khu vực FDI phần lớn là nhờ lao động dịch chuyển từ khu vực nội địa năng suất lao động thấp sang khu vực FDI với năng suất lao động tuyệt đối cao hơn (phần đóng góp này chiếm 64%). Đóng góp từ tăng trưởng năng suất lao động của chính khu vực FDI (đã trừ phần đóng góp từ dịch chuyển lao động) chiếm tỷ lệ nhỏ hơn rất nhiều, chỉ chiếm 36%.

“Mức độ liên kết ngược và liên kết xuôi giữa khu vực FDI với khu vực nội địa hầu hết đều thấp ở tất cả các ngành, đặc biệt nhóm ngành công nghệ và kỹ thuật cao. Điều đó ngụ ý rằng, khả năng tác động gián tiếp tới năng suất lao động của khu vực FDI thông qua hiệu ứng tràn về công nghệ và kỹ năng lao động là thấp”, đại diện Viện kinh tế Việt Nam cho hay.

Trong bối cảnh đó, ông Hùng cho rằng, Việt Nam cần chú trọng chất lượng của dòng vốn FDI thu hút thay vì số lượng. Cùng với đó, tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ và có những hành động cụ thể hơn. Trong đó, ưu tiên tiếp cận tín dụng đối với những ngành/lĩnh vực hỗ trợ ưu tiên phát triển. Chính phủ, bộ, ngành tiếp tục tổ chức các cuộc đối thoại, trao đổi giữa các tập đoàn FDI lớn và nhằm tìm kiếm đối tác cung cấp đầu tư.