Tôi quý trọng ngành than bởi bản sắc văn hóa và tình người

Trong tâm trí của những người thợ mỏ và đồng nghiệp, cái tên Đoàn Văn Kiển được nhắc đến như một thủ lĩnh của Ngành Than với sự yêu mến chân thành. Trong căn nhà có khoảng sân vườn ở một ngõ nhỏ, phố nhỏ Hà Nội, cựu thủ lĩnh Ngành Than trải lòng về quãng thời gian rời bỏ "ghế nóng" về với đời thường. Đã gần 5 năm trôi qua…

 

Nghỉ hưu, được làm những điều mình thích

Còn nhớ vụ sập hầm lò ở Xí nghiệp Than Thành Công của Công ty Than Hòn Gai vào 1/10/2009, hình ảnh Chủ tịch Tập đoàn TKV Đoàn Văn Kiển đích thân xuống hiện trường trực tiếp chỉ đạo cứu hộ, “mở cửa đột phá” cứu công nhân bị nạn, để lại ấn tượng đẹp về tình người Ngành Than. Qua nhiều ngày huy động hàng ngàn người cứu hộ, nhưng quá đau xót, phép màu đã không xảy ra, 4 người thợ lò đã bị thiệt mạng. Đó là những ngày đầu đầu tháng 10/2009, lần cuối ông làm tròn trách nhiệm và nghĩa cử đẹp đối với sự hy sinh mất mát của những người người đồng đội của ông trên cương vị người đứng đầu Ngành Than; Cuối tháng, ông có đơn xin nghỉ hưu và được Chính phủ chấp thuận.

Ông Kiển chỉ huy cứu nạn vụ sập hầm lò ở than Hòn Gai (2009)

Trong căn nhà có khoảng sân vườn ở một ngõ nhỏ, phố nhỏ Hà Nội, cựu thủ lĩnh ngành than trải lòng về quãng thời gian rời bỏ “ghế nóng” về với đời thường:

Làm tổng giám đốc như ngồi ghế nóng Ngành Than. Trước đây còn làm quản lý, làm việc với những chiến lược, chỉ tiêu, giải pháp, chịu nhiều sức ép để hoàn thành mục tiêu lớn. Than là ngành nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nên lãnh đạo Ngành Than cũng luôn chịu sức ép cao, căng thẳng không chỉ 24/24 tiếng trong ngày mà cả tháng, cả năm. Mình chỉ thực sự yên tâm tắt điện thoại khi những ngày cuối cùng của năm cũ sắp qua, thợ mỏ nghỉ tết sum họp với gia đình. Không phải chỉ lo hoàn thành chỉ tiêu Nhà nước giao hay chuyện kinh doanh lãi lỗ mà sự an toàn của người thợ là điều phải lo nhiều nhất. Ngành Than khác các ngành khác là tai nạn, sự cố, rủi ro cao hơn. Làm thế nào để nâng cao an toàn lao động là điều làm tốn nơ-ron thần kinh nhiều nhất.

Như đoán trước được câu hỏi thông thường đối với một quan chức đã về hưu, ông Kiển bày tỏ:

Đối với ai đó về hưu có thể là hụt hẫng, còn đối với mình là không, bởi mình đã tính trước được các “kịch bản”, kết thúc nhiệm vụ và nghỉ hưu hết trách nhiệm về mặt pháp luật và mình được thoải mái làm những gì mình thích.

Chẳng hạn mình có thời gian chăm lo việc nhà mà trước đây một mình vợ phải lo toan. Có thời gian làm vườn, chơi với các cháu và học thêm Hán tự, tra cứu để đọc sách và giao dịch bằng tiếng Trung…

Vợ chồng mình còn dành thời gian đi du lịch ở nước ngoài hoặc đến các vùng miền trong nước, gặp gỡ anh em, bè bạn, giao lưu với nhân dân, tìm hiểu thêm về văn hóa các vùng miền, chụp ảnh ghi lại những khoảnh khắc cuộc sống, tham gia các hoạt động từ thiện như chương trình Lục lạc vàng của VTV và hoạt động từ thiện của Ngành Than, của quê hương.

Điều ấp ủ trong nhiều năm là viết sách thì đến nay mình đã thực hiện được, hai cuốn sách chuẩn bị ra mắt trong thời gian tới.

Cuốn thứ nhất: Thợ lò cũng là chiến sỹ sẽ ra mắt vào 10/10 tới nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Tổng Công ty Than Việt Nam (TVN) nay là Tập đoàn CN Than và Khoáng sản VN (TKV), gửi gắm tấm lòng và tri ân tới những người thợ lò, những người thợ mà mình yêu quý và luôn đau đáu khi nhắc nhớ đến họ. Xung quanh cuộc sống lao động của người thợ hầm lò, cuốn sách là sự trải lòng, giải nghĩa sự lao động cần cù, sáng tạo, dũng cảm, ý chí kiên cường và sự hy sinh lớn lao của người thợ hầm lò đối với công việc nguy hiểm của “người trần gian, làm việc âm phủ”. Bằng tình nghĩa của một người thợ già, mình thấy có trách nhiệm bộc bạch và chia sẻ với lớp thợ trẻ những kiến thức, kinh nghiệm để khích lệ họ yêu nghề hơn, làm việc an toàn hơn, vui hơn trong cuộc sống. Mặt khác, diễn giải và cắt nghĩa tại sao thợ lò nản lòng và thậm chí bỏ nghề với mong muốn những người quản lý trong ngành và xa hơn là Đảng, Chính phủ cần có những sự quan tâm đến thợ hầm lò hơn nữa để có cơ chế giữ chân họ khi công việc của họ rất nguy hiểm, rủi ro, nhưng lại rất cần cho an ninh năng lượng đất nước trong khi họ còn có nhiều sự lựa chọn khác.

Cuốn sách Tình yêu ở lại là một cuốn tự truyện dự kiến ra mắt vào đầu năm tới lấy cảm hứng từ bài thơ: Thơ tình cuối mùa thu của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh.

Ông chậm rãi đọc: “Tình ta như hàng cây đã yên mùa bão tố/ Tình ta như dòng sông đã qua ngày thác lũ/ Thời gian như ngọn gió mùa đi cùng tháng năm, tuổi theo mùa đi mãi…/ Chỉ còn anh và em là của mùa thu cũ; Chỉ còn anh và em cùng tình yêu ở lại…”

Thông qua cuốn sách mình gửi lời tri ân, tôn vinh những người thợ, những người đã giúp đỡ, nâng đỡ, bảo vệ mình từ lúc còn trẻ mới bước vào nghề, gắn bó với cuộc đời và với nghề, để mình được có được ngày hôm nay - ông trải lòng.

Cũng vì “tình yêu ở lại” nên về hưu nhưng ông Kiển vẫn không hề nhàn rỗi. Ông vẫn dành tâm huyết cho ngành than, bận bịu với công việc giảng bài ở Trường Quản trị kinh doanh - TKV, truyền cảm hứng cho lớp thợ trẻ, trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ đương nhiệm, cán bộ kế cận ngành than, giao lưu với công nhân, cán bộ hưu trí, nhất là những đơn vị ông từng gắn bó như ở các Công ty: Xây dựng mỏ hầm lò I, Than Mông Dương, Than Dương Huy (Xây lắp Cẩm Phả), Công nghiệp mỏ Việt Bắc… Ông làm chủ nhiệm các CLB hưu trí Giám đốc TKV nghỉ hưu tại Hà Nội và những người làm xây dựng cơ bản Ngành Than; đồng thời tham gia lãnh đạo Hội KHCN mỏ VN và Hội hữu nghị Việt Nam - Ba Lan.

Thời gian khác ông cũng dành cho việc đọc sách báo, lên facebook để trí tuệ không bị lạc hậu.

Tình người ngành than rất ấm

Ông từng chia sẻ: “Mình được sang Ba Lan học về ngành mỏ trong khi đất nước còn chiến tranh, đó là điều mình ghi ơn với dân và mắc nợ với đất nước”. Cống hiến cả quãng đời lao động của mình cho Ngành Than và nghề thợ mỏ, điều quý báu nhất ông rút ra đó chính là bản sắc văn hóa và tình người của Ngành Than.

Người thợ mỏ có truyền thống cần cù, dũng cảm, trung thực, dám dấn thân, không ngại gian khổ, hy sinh. Chất thợ mỏ là chất cách mạng, gắn kết, có kỷ luật và đồng tâm. Thợ mỏ sẵn sàng nhường áo, sẻ cơm, đùm bọc nhau trong khó khăn, hoạn nạn. Văn hóa Ngành Than mang đậm tình người, đó là nét đặc trưng nổi bật nhất.

Ông Kiển gặp gỡ những người thợ hầm lò

Ngành Than cũng là ngành quan tâm nhiều đến đời sống người thợ, đi đầu trong việc giải tỏa nhà dột nát của công nhân. Công đoàn Ngành Than cũng mạnh. Tình nghĩa Ngành Than để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong lòng người. Các mỏ thường hay quan tâm trao quà cho những gia đình có người bị tai nạn lao động hay gặp khó khăn bất khả kháng; quý trọng những người đi trước, không quên ơn họ, thăm hỏi lẫn nhau, nghỉ hưu lâu năm vẫn được kính trọng. Tình người trong ngành than rất ấm, rất sâu đậm. Chính từ tình người gắn kết ấy mà tạo ra sức mạnh “kinh khủng” lắm.

Nói về điều này, cựu thủ lĩnh Ngành Than cho rằng, đó là những khác biệt so với những ngành khác. Và đó cũng là sức hút kéo giữ ông lại gắn bó với ngành đến trọn đời, mặc dù đã có nhiều cơ hội để thay đổi.

Người hiểu ngành than nhất là cụ Hồ

Lúc nào người thợ lò cũng là hình ảnh đẹp nhất trong tâm trí ông. Nhưng giờ đây điều ông trăn trở là vì sao ngày nay, người thợ hầm lò lại bỏ nghề?

Ông kể, cuốn sách: Thợ lò cũng là chiến sỹ - đã cắt nghĩa điều này. Vì nghề hầm lò chẳng khác gì người trần gian làm việc âm phủ, sự cố, tai nạn, rủi ro tính mạng luôn rình rập họ. Gia đình sợ họ tàn phế, mất mạng, thậm chí có thể dẫn đến “tiệt nòi”. Việc những người quản lý đối xử với họ không đúng mực, mắng nhiếc, bớt xén tiền lương, thưởng… đâu đó vẫn xảy ra. Trong khi đó, họ có những sự lựa chọn khác về nghề nghiệp để có thể an toàn hơn, gần gũi gia đình, vợ con hơn. Xã hội lại không tôn vinh nghề mỏ hầm lò nên có nguy cơ thợ lò bỏ nghề. Bây giờ tuyển thợ hầm lò khó lắm, phải lên tận khu vực miền núi phía bắc chứ không phải đồng bằng Sông Hồng như trước đây. Chi phí đào tạo tốn kém mà họ vẫn bỏ nghề. Đó là điều không chỉ Ngành Than cần suy nghĩ.

Ông Kiển chia sẻ thêm về điều trăn trở của mình bằng một đúc rút: Người hiểu và đánh giá về Ngành Than đúng nhất là cụ Hồ khi Người nói: “Ngành sản xuất than cũng như quân đội đánh giặc” trong lần gặp đoàn đại biểu cán bộ, công nhân Ngành Than tại Phủ Chủ tịch ngày 15/11/1968. Bởi người thợ mỏ vào lò khai thác than luôn phải đối mặt với hiểm nguy chẳng khác gì người chiến sĩ ra trận đối mặt với hòm tên mũi đạn. Người thợ hy sinh tính mạng trong lao động đáng lẽ phải được công nhận là liệt sỹ nhưng điều này đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Điều đáng buồn nữa là ở góc độ truyền thông có chỗ chưa hiểu được về Ngành Than và người thợ mỏ. Họ cho rằng tài nguyên “rừng vàng biển bạc” là của đất nước, Ngành Than chỉ việc đào lên bán mà còn kêu khó. Hay khi đưa tin về những vụ tai nạn xảy ra, nhiều tác giả đã không hiểu hết nên tin thiếu khách quan, vô hình trung làm tăng nỗi sợ sệt và tác động không tốt đến tâm lý người thợ và gia đình họ, nên tác dụng là ngược lại.

Thợ mỏ xưa và nay - khác xa nhau nhiều lắm

Từng trưởng thành từ Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương, nơi chứng kiến nhiều sự đổi thay của người thợ hầm lò qua từng năm tháng, nơi có nhiều mô hình thể hiện chất lượng cuộc sống người thợ mỏ, khi được hỏi: Thợ mỏ ngày nay khác ngày xưa ở chỗ nào, ông Kiển khẳng định chắc nịch: Khác xa, khác nhiều lắm!

 Xưa hình ảnh người thợ vào lò: một tay xách đèn đất, vai đeo bị quần áo, tay kia ôm đầu gỗ (về làm củi) thật cám cảnh. Hàng tháng được cấp 24 kg gạo, 3 kg thịt. Vợ con ở quê, 4 thợ mỏ ở chung phòng tập thể nhà cấp 4 chỉ 15 m2. Thợ mỏ đi làm đứng chen chúc trên chiếc xe như “chiếc thùng lớn”, giờ nghĩ lại mà thấy sợ. Năm 1981, một tai nạn giao thông xảy ra, “chiếc thùng lớn” này bị lật khiến 115 công nhân Mỏ Cọc 6 bị nạn, trong đó có 11 người thiệt mạng, rất đau xót.

Người thợ ngày nay được lao động trong môi trường tốt hơn. Trước đây làm thủ công, nay mỏ đã cơ giới hóa, đỡ nặng nhọc hơn, việc cảnh báo các nguy hiểm tốt hơn, tai nạn, sự cố cũng giảm nhiều.

Bữa ăn tự chọn của mỏ Mông Dương

Thợ mỏ nay đi làm trên xe máy lạnh, ủng, quần áo bảo hộ được giặt giũ tinh tươm, có máy sấy khô. Bắt đầu từ mỏ than Mông Dương, cuộc cách mạng về bữa ăn của người thợ mang đậm dấu ấn của sự sáng tạo và tình người. Ông Kiển kể, chính ông đã không đồng ý việc thuê dịch vụ nấu ăn mà quyết định phương án các mỏ tự tổ chức phục vụ. Thay vì bữa cơm đạm bạc đầu ca, bữa ăn có bánh “nắp hầm” giữa ca như trước đây, bữa cơm tự chọn của công nhân nay có tới trên dưới 20 món ngon, sạch sẽ, no đủ (thật khó tin nhưng đó là sự thật). Người thợ được chăm sóc cẩn thận chu đáo. Chưa từng có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra. Những bữa ăn được nấu bằng chính bàn tay của những người thân của thợ mỏ; các chị nấu cho chồng con, anh em, đồng đội của mình, không chỉ thể hiện tình nghĩa mà đó cũng chính là chất lượng cuộc sống, an toàn lao động của người thợ. Từ đó, họ có thêm sức mạnh để dấn thân vào những nơi gian khổ, nguy hiểm nhất.

Ông xúc động kể lại, khi đến mỏ Vàng Danh, năm 1999, chứng kiến phút giây những hộp cơm của người thợ được những người vợ, người chị, em chuẩn bị chu đáo đến từng cái tăm, để mang vào lò cho công nhân ăn giữa ca, ông đã khóc! Ông nói rằng, đó là chuyện nhỏ nhưng thật sự vĩ đại bởi nó sâu nặng trách nhiệm và tình người.

Người thợ giờ có trình độ cao hơn trước, điều kiện sinh hoạt văn hóa, chơi thể thao tốt hơn, nhà ở tập thể đầy đủ tiện nghi, có nơi có cả cà phê wifi thư giãn. Nhiều gia đình thợ được tạo điều kiện xóa nhà dột nát để có nơi ăn, chốn ở tốt hơn, có căn hộ chung cư. So với trước đây, đó là những nỗ lực, là cuộc cách mạng, là những bước tiến dài của Ngành Than, nhất là từ khi có Nghị quyết của Trung ương Đảng (2007) về xây dựng giai cấp công nhân.

Tôi kính trọng thợ mỏ, thọ mỏ tin tôi - ông kể lại - khi tôi còn làm lãnh đạo Tập đoàn, tôi đã tìm mọi cách có thể để cải thiện việc làm và đời sống thợ mỏ.

Ngay như trong lĩnh vực văn nghệ - thể thao, khi còn là Giám đốc Xí nghiệp Xây lắp mỏ Mông Dương những năm 1981-1982, chính ông đã nhận ra nhu cầu không thể thiếu và tạo điều kiện cho công nhân tổ chức các hoạt động, mặc cho thậm chí việc hát và nhảy lúc đó còn bị phê phán. Sau này phong trào văn nghệ - thể thao của ngành than được phát huy, phát triển đều có sự “dính líu” của ông.

Trăn trở với Ngành Than và người thợ hầm lò

Cựu Thủ lĩnh ngành than nhận định: Trong 10-15 năm nữa, dầu khí sẽ cạn dần, thủy điện đã hết công suất, than sẽ chiếm ưu thế, vận mệnh của an ninh năng lượng quốc gia nằm trong tay Ngành Than. Đừng có mơ tưởng vào việc nhập khẩu được nhiều triệu tấn than để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia mà phải trông vào việc khai thác các mỏ mới. Đồng bằng Sông Hồng thực sự nhiều than, chủ yếu là than hầm lò. Cần sớm thử nghiệm công nghệ truyền thống và công nghệ khí hóa than dưới lòng đất để xác định xem có thể khai thác đến mức nào?

Cân bằng năng lượng quốc gia phải trông vào than. Mà than lại trông vào hầm lò. Chính những chính sách đối với khai thác hầm lò, đối với thợ lò sẽ quyết định an ninh năng lượng của đất nước. Vậy nghề làm mỏ hầm lò, thợ hầm lò là cao quý. Cần coi trọng, tôn vinh thợ hầm lò, có chính sách thỏa đáng với Ngành Than, phát triển khai thác xuống sâu ở Bể than Đông bắc, phát triển Bể than Đồng bằng Sông Hồng thì mới giải quyết được bài toán an ninh năng lượng quốc gia chứ không phải trông chờ vào nhập khẩu than hay nhập khẩu vật tư, nguyên liệu làm điện nguyên tử. Tôi nói điều này với tấm lòng của một công dân yêu nước mong ước những điều tốt đẹp cho đất nước mình.

Một lần nữa, ông Kiển lại trở lại đề tài về người thợ lò. Thợ lò nay rất khó tuyển ở đồng bằng mà phải lên tận miền núi. Chi phí đào tạo tốn kém mà họ vẫn bỏ nghề. Có nơi, có lúc số bỏ việc và số tuyển mới ngang nhau. Nếu thợ lò không được tôn vinh, họ vẫn tự ty thì nguy cơ không bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia sẽ đến.

Hai năm nay, do “sáng kiến” của Bộ Tài chính, Tập đoàn Than - Khoáng sản bị “lấy” hết lợi tức sau thuế. Thêm nữa, các khoản thuế và phí trong giá thành cũng tăng cao (Thuế và phí Nhà nước thu chiếm 33% doanh thu than xuất khẩu và 23% doanh thu than bán trong nước). Như vậy sức đầu tư của Tập đoàn giảm sút, còn gì để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ để bảo đảm an toàn? Rồi lương thợ hầm lò cũng thấp đi trong khi giá vẫn trượt. Không đầu tư cho thợ hầm lò, đó là điều đáng tiếc, đây là “điểm thắt” của quốc gia.

Với cái nhìn từ góc độ của một nhà quản lý và một người thợ già từng gắn bó cả cuộc đời làm việc với vùng mỏ, ông Kiển “tha thiết”: “Không nhập khẩu được nhiều than đâu! Năng lượng phải đi trước một bước, lãnh đạo đất nước không có đường lối phát triển ngành năng lượng thì không thể phát triển đất nước. Đó phải là quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước đối với Ngành Than”.

Thành công và những bài học quý

Đương thời, khi còn là lãnh đạo cao nhất của Tập đoàn Than - Khoáng sản VN, ông Đoàn Văn Kiển được nhắc đến với vai trò là một thủ lĩnh. Chính trong những hoàn cảnh khắc nghiệt, những hiểm nguy và nan đề của ngành than đã tôi luyện cho ông một bản lĩnh vững vàng, tư duy sắc bén, hành động quyết liệt, dám làm, dám chịu trách nhiệm đến cùng.

Nhiều lần trả lời báo chí, ông Kiển đã rất có tình, có lý khi nói rằng: Ngành Than là một ngành nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nên cần được tôn vinh, đặc biệt thợ hầm lò luôn phải đối mặt với nguy hiểm, rủi ro cao, họ cần được quý trọng và bảo vệ. Vậy nên, điều gì có thể làm được để tôn vinh và bảo vệ những người thợ của mình, bảo vệ tính mạng và “nồi cơm” của họ, ông đã cùng lãnh đạo Tập đoàn đều làm hết sức có thể.

Ông nhớ lại câu chuyện vào ngày 6/8/2008, cơn lốc xoáy làm đổ 3 máy rót than ở Cảng than Cửa Ông. Có mặt tại đây trong lúc nước sôi lửa bỏng này, vị tư lệnh ngành nghe bên tai mình tiếng than thở của chị em công nhân: Thế là đổ vỡ nồi cơm nhà mình rồi! Ông đã bàn với anh em bằng mọi cách giải quyết nhanh để khôi phục lại máy móc, khôi phục lại sản xuất cũng là để bảo vệ “nồi cơm” của gia đình người thợ. Không ngờ, việc giải quyết sự cố tiến triển nhanh chóng, vượt quá mong đợi bởi xung quanh ông có rất nhiều người tài, bởi họ có trí tuệ và sự đồng tâm lớn nên việc gì dù khó mấy cũng thành công.

Chân dung ông Đoàn Văn Kiển hoặc ở nhà riêng ông Kiển

Trong suốt 35 năm hành nghề, từ kỹ sư tập sự đến làm quản lý; từ cấp nhỏ đến vị trí cao nhất là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn, ông đúc rút ra bài học quý: Trong đội ngũ của đơn vị mình, ngành mình có rất nhiều người tài giỏi, nếu biết khai thác, phát huy được nội lực sẽ mang lại nhiều kết quả bất ngờ, đó cũng là nguồn lực rất mạnh mẽ để phát triển. Bài học quý này (không chỉ đối với ngành than) được ông truyền dạy cho các nhà quản lý, các giám đốc công ty thành viên để họ biết khơi dậy và phát huy trí tuệ của anh chị em xung quanh mình.

Thành công của ông, từ việc khoán sản phẩm ở mỏ Mông Dương (năm 1981) tạo động lực cho thợ mỏ làm việc, đến việc đề ra chiến lược phát triển cho Tập đoàn Than - Khoáng sản VN khi ông là lãnh đạo cao nhất của Tập đoàn, nhưng ông cho rằng, thành công nhất của mình và lãnh đạo Tập đoàn Than là lấy lại vị thế mà Ngành Than đã mất đi, khôi phục lại vị thế xứng đáng của ngành. Từ chỗ sản lượng than bán ra chỉ là 6 triệu tấn năm 1994, 15 năm sau, năm 2009 và cũng là năm ông nghỉ hưu, con số này đã là 43 triệu tấn, tăng gấp 7 lần. Một con số ấn tượng không dễ dàng đạt được nếu không có một tầm nhìn chiến lược, sự quyết tâm, đồng tâm của của đội ngũ những người thợ mỏ. Ông cho rằng, trên hết là tình yêu, tình người, văn hóa thợ mỏ đã thấm đẫm vào mỗi hòn than đã trở thành máu thịt trong bề dày truyền thống, góp phần làm nên những thành công của Tập đoàn Than - Khoáng sản VN.

Tình yêu ở lại

Ông Kiển trải lòng: Như lời của “Thơ tình cuối mùa thu”, giờ mình đang ở cuối thu, giông bão đã qua đi rồi, chỉ tình yêu còn đọng lại với ngành, nghề và người. Điều mình hạnh phúc nhất là dù trong lúc thuận lợi hay khó khăn, dù ở đỉnh vinh quang hay những lúc “vận hạn”, bị kỷ luật, mình vẫn nhận được những tình cảm nồng ấm, tin yêu như người nhà của những người thợ vùng mỏ, của bạn bè, đồng nghiệp.

Mỗi lần về Mông Dương, nơi người kỹ sư trẻ ấy bước đi những bước đầu tiên trong nghề, đến những nơi ông trưởng thành về nghề nghiệp: Than Dương Huy, Công nghiệp mỏ Việt Bắc… những chuyến thăm vùng mỏ, hay đi xa tận Tây Nguyên, ông đều được đón tiếp thân tình như đón người con trở về nhà. “Mỗi đóng góp của Tập đoàn hay của mình dù những việc lớn như làm đường xá, trường học, hay việc nhỏ như thăm hỏi động viên người nghèo… đối với địa phương đều được họ ghi nhận và đáp lại bằng sự cảm kích chân thành” - Người con xưa của mỏ xúc động.

“Mấy năm tôi nghỉ hưu nhưng anh em bạn bè vẫn thường xuyên tới thăm. Trước đây, tôi cũng có nhiều kẻ thù vì tôi vốn rắn mặt, họ mất lợi ích nhiều nên việc trả thù là lẽ dĩ nhiên. Nhưng những lúc khó khăn, hoạn nạn, chính những người thợ đã nuôi dưỡng ý chí cho tôi, chính họ đã ủng hộ tôi, phản đối khi tôi bị kỷ luật. Tôi biết ơn họ, những người bạn, những người thợ mỏ bởi tình cảm ấy rất ấm”.

Ông chia sẻ, đoạn kết cuốn sách Thợ lò cũng là chiến sỹ mà ông đã gửi gắm tình yêu sâu đậm, thủy chung của mình đối với người thợ lấy cảm hứng trong một ca khúc Đất mỏ anh hùng của nhạc sỹ Xuân Giao: Tổ quốc thân yêu đêm ngày chờ than/ Ghi nhớ trong tim ta chẳng hề quên/ Trăm nghìn khó khăn ta vẫn vượt lên/ Dâng cả trái tim cho tổ quốc mẹ hiền… Nếu thợ lò được tôn vinh, thì thợ lò sẽ không quản ngại hy sinh, hiến dâng cả trái tim cho tổ quốc mẹ hiền. Tôi đã nghẹn ngào mỗi khi nghe hay nhắc đến những khúc ca có sức sống mãnh liệt như sức sống người thợ mỏ.

Hà Nội, thu 2014

M.Y