Giải bài toán chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI

 

Việt Nam kỷ niệm 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài và đã ghi nhận những kết quả tích cực về nhiều mặt. Đến nay, Việt Nam đã thu hút được 25.949 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 326,3 tỷ USD, trong đó, 84% số dự án là đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài.

nh

Để thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cần có nỗ lực toàn diện từ cải cách môi trường kinh doanh, bổ sung khung pháp luật và xây dựng các “vườn ươm khoa học-công nghệ. (Khu công nghệ cao Hoà Lạc, nguồn: Internet).

Ngoài ra, vốn thực hiện luỹ kế ước đạt 180,7 tỷ USD bằng 56% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực. Đầu tư nước ngoài hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP. Năm 2017, khu vực FDI đóng góp gần 8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng thu ngân sách. khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và 5-6 triệu lao động gián tiếp.

Các dự án FDI chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hoá thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao. Bộ Kế Hoạch- Đầu tư cũng xác nhận: mục tiêu chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá là chưa đạt được, chưa thiết lập được mối liên kết nước ngoài với doanh nghiệp trong nước, chưa thấy có tổng kết và đánh giá định lượng nào về chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho các doanh nghiệp trong nước sau 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài. Điều này chắc chắn không thể được coi là một ưu điểm hay thành tựu và cũng chưa thấy cơ quan nào đứng ra nhận trách nhiệm.

Trung Quốc tận dụng lợi thế thị trường rất lớn nên đã quy định rõ trách nhiệm chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào Trung Quốc. Đường sắt cao tốc của Trung Quốc đã tiếp thu công nghệ của Tập đoàn Siemens Đức, đựơc phép đầu tư vào đường sắt cao tốc Thượng Hải-Phố Đông, người máy của Trung Quốc sản xuất tại thành phố Phật Sơn, Quảng Đông, là mua lại Tập đoàn fimasy KuKa của Đức…

Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được ưu đãi “trải thảm” về đất đai, thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng những ưu đãi rất cao đó so với doanh nghiệp trong nước cũng như luật pháp và chính sách của không ràng buộc các điều kiện ưu đãi đó với bất kỳ trách nhiệm chuyển giao công nghệ nào. Một số tỉnh còn tự ý ưu đãi vượt khung luật pháp để thu hút đầu tư nước ngoài về tỉnh mình mà không cần có yêu cầu về khoa học-công nghệ nào. Vì vậy, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hoạt động như một khối doanh nghiệp riêng biệt, ít hoặc không có liên kết nào với doanh nghiệp trong nước.

Theo đó, không có sự ràng buộc nào về luật pháp đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để chuyển giao công nghệ  và cũng không có động lực kinh tế đủ mạnh để họ liên kết và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Tập đoàn Samsung đã có danh sách hơn 100 linh kiện đề nghị các doanh nghiệp đối tác Việt Nam cung ứng, 1200 doanh nghiệp Việt Nam đã đăng ký, một Hội Đồng tuyển chọn đã xem xét các doanh nghiệp này và cuối cùng đã lựa chọn được 12 doanh nghiệp với điều kiện họ phải đầu tư, nâng cao trình độ công nghệ. Ví dụ này cho thấy, ngay cả khi doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thiện chí thì trình độ của doanh nghiệp nước ta còn có nhiều hạn chế, quy mô quá nhỏ bé nên việc liên kết trong một chuỗi cung ứng gặp không ít trở ngại.

Do môi trường kinh doanh chưa bình đẳng, thiếu công khai minh bạch, các quyết định đầu tư công hay tác động đến doanh nghiệp không cần phải giải trình, không ít doanh nghiệp Việt đã phải đầu tư trí lực, thời gian và tiền bạc để thiết lập và nuôi dưỡng quan hệ “thân hữu” với quan chức các cấp, trở thành “doanh nghiệp sân sau” thay cho đầu tư vào khoa học-công nghệ và nguồn nhân lực. Vì vậy, tỷ lệ đầu tư vào khoa học-công nghệ của Việt Nam rất thấp và chưa sẵn sàng cho chuyển giao công nghệ. Tổng mức đầu tư toàn xã hội cho KHCN hiện chưa đến 1% GDP, trong khi đó, Nghị quyết 20/NQ-TW đặt ra phải đầu tư cho KHCN tối thiểu 1,5% GDP vào năm 2015 và 2% vào năm 2020.

Mặc dù, Luật Khoa học, công nghệ năm 2013 đã quy định rõ ràng, các dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế - xã hội sử dụng ngân sách nhà nước phải lập hạng mục chi cho ứng dụng nghiên cứu và phát triển làm căn cứ khoa học trong quá trình chuẩn bị đầu tư, dự án đầu tư chương trình phát triển kinh tế - xã hội không phân biệt nguồn vốn phải được thẩm định về cơ sở khoa học, trình độ công nghệ. 

Theo Bộ trưởng Khoa học-Công nghệ, cả nước hiện có 303 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 43 tổ chức được cấp giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao, so vớí khoảng 560.000 doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp đang hoạt động và khoảng 4 triệu hộ kinh doanh cá thể, những con số trên thật là khiêm tốn. Ngoài ra, còn có khoảng 2.000 doanh nghiệp đạt điều kiện doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực: công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm, doanh nghiệp trong các khu công nghệ cao, doanh nghiệp sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích chưa tiến hành đăng ký để cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Hơn thế nữa, theo GS TSKH Nguyễn Mại thì: “Hiện tượng phổ biến trong các hợp đồng chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI là giá cả cao hơn nhiều so với mua công nghệ của các nước phát triển. Do vậy, khi thương thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, cần có chuyên gia tư vấn am hiểu thị trường công nghệ quốc tế để bảo vệ lợi ích chính đáng của bên tiếp nhận công nghệ".

Chính vì vậy ta có thể thấy, ô tô Vinfast hay sứ Minh Long đều mua công nghệ, thiết bị để có công nghệ cao chứ không có chuyển giao công nghệ từ đầu tư nước ngoài.

Theo đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ, ở mức độ nhất định thu hút đầu tư nước ngoài đã góp phần thúc đẩy cạnh tranh, khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm tiếp cận chuyển giao công nghệ qua mua công nghệ hay hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài, từng bước nâng cao trình độ công nghệ sản xuất trong nước. Một số ngành đã tiếp thu được công nghệ tiên tiến của thế giới và có những tiến bộ rõ rệt như: bưu chính - viễn thông, dầu khí, xây dựng, cầu đường, khách sạn cao cấp, căn hộ cao cấp và văn phòng cho thuê... 

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam PVN đã tiếp thu có hiệu quả công nghệ dầu khí từ doanh nghiệp liên doanh VietSovPetro và các nguồn công nghệ khác, xây dựng viện nghiên cứu và làm chủ được nhiều công nghệ hiện đại và phức tạp trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa nước ta.

Tập đoàn Viễn thông VNPT và Viettel cũng đạt nhiều thành tựu và tiến bộ trong  vận dụng công nghệ thông tin hiện đại, Viettel đã đầu tư ra nước ngoài có kết quả.

Để thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cần có nỗ lực toàn diện từ cải cách môi trường kinh doanh, bổ sung khung pháp luật và xây dựng các “vườn ươm khoa học-công nghệ”, kết nối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước như Thành phố Hồ Chí Minh đã làm và đem lại những kết quả bước đầu.

Chính phủ đã yêu cầu cần có bộ lọc hiệu quả hơn đối với đầu tư nước ngoài, đồng thời phải nỗ lực cao hơn nữa trong chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh (Nguồn: DĐ DN)