Thách thức tối đa hoá lợi ích từ các FTA

 

Khi tham gia vào các FTA, các chuyên gia cho rằng thị trường sẽ “phẳng” hơn, ưu thế thuộc về các nền kinh tế có nội lực lớn mạnh hơn và dù muốn hay không các doanh nghiệp Việt Nam phải thích ứng với điều này.

Thách thức lớn đang đặt ra

Thách thức tối đa hoá lợi ích từ các FTA.

Thách thức tối đa hoá lợi ích từ các FTA.

Hiện nay, đang có một số chỉ báo được cho là bất lợi cho Việt Nam, trong đó có thể kể đến môi trường đầu tư kinh doanh.  Mặc dù, được các nhà đầu tư ghi nhận về những nỗ lực cải cách môi trường đầu tư kinh doanh, tuy nhiên, Việt Nam đã tụt 3 bậc, xuống vị trí 77/140 về Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu thường niên năm 2018 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tụt 1 bậc, xuống vị trí 69/190 theo báo cáo Môi trường kinh doanh (Doing Business) 2019 của Ngân hàng Thế giới.

Chưa kể, theo kết quả tổng kết 5 năm thực hiện Nghị Quyết 19 do Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tổ chức mới đây cho kết quả, môi trường kinh doanh theo các tiêu chí đánh giá của World Bank đã được cải thiện, tuy nhiên hầu hết chưa đạt mức trung bình của ASEAN 4.

Bên cạnh đó có thể kể đến nợ công. Tính đến năm 2018, mỗi người Việt Nam đã gánh xấp xỉ 35 triệu đồng nợ công và theo dự báo con số này sẽ tăng thêm trong tương lai. Theo đó, sẽ không thực sự “khôn ngoan” nếu tiếp tục vay nợ, đổ vốn đầu tư để “làm đẹp” các chỉ số, để tăng hạng trong báo cáo của các tổ chức tài chính Quốc tế.

Bên cạnh những yếu tố khách quan như vừa nêu, việc doanh nghiệp chưa thực sự chủ động tìm hiểu và tận dụng những lợi thế mà FTA mang lại cũng được cho là những hạn chế lớn nhất, khiến doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang “theo sau” doanh nghiệp ở các nước trong khu vực.

Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã tham gia 10 FTA, tuy nhiên, theo số liệu khảo sát chưa đầy đủ rằng vẫn còn khoảng 20% doanh nghiệp nội không biết hoặc hiểu lờ mờ về FTA. Hoặc doanh nghiệp không biết khai thác thông tin ở đâu và cũng chưa từng được đào tạo, nâng cao kiến thức về hoạt động xuất - nhập khẩu cũng như đáp ứng yêu cầu sản xuất để xuất khẩu được sản phẩm.

Điều này còn được thể hiện rõ nét bằng con số xuất nhập khẩu. Cụ thể, hiện nay, Việt Nam xuất khẩu vào khu vực ASEAN thấp nhất so với các nước khác trong khu vực. 100% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chỉ có 9,8% vào thị trường Asean (năm 2016), còn 90% là vào các thị trường khác. Trong khi, trung bình của ASEAN là 24% xuất khẩu vào mỗi khối. Nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN cũng thấp nhất, chỉ 13,7% so với các khối khác. Năm 2017, tỷ trọng trong xuất khẩu hàng hóa trong nội bộ khu vực ASEAN là 11,7%, có tăng lên 1 chút so với năm 2016.

Doanh nghiệp không thể “đi sau”

Mặc dù, một điểm sáng trong việc doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội từ các FTA, có thể kể đến con số 40% ưu đãi thuế quan trong các FTA. Tuy nhiên, điều đáng buồn, chủ yếu là do các doanh nghiệp FDI thực hiện.

Tất nhiên, tham gia FTA không thể tận dụng ngay tất cả cơ hội, mà phải có lộ trình từng bước gắn với tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, gắn với lộ trình sửa đổi, bổ sung hệ thống quy phạm pháp luật. Với CPTPP cũng không kỳ vọng doanh nghiệp nội địa tận dụng được toàn bộ cơ hội, nhưng chúng ta cũng không thể chấp nhận chậm chân so với các đối tác khác.

Theo đánh giá của một số chuyên gia có kinh nghiệm, rõ ràng Việt Nam đã cải cách, tuy nhiên, các nền kinh tế khác còn cải cách mạnh mẽ hơn. Khi gia nhập “sân chơi” lớn, nguy cơ bị chiếm lĩnh cả thị trường sản xuất và tiêu thụ dường như ngày một rõ ràng hơn. Vì vậy, để vượt qua được điều này cần có thay đổi thực chất, mang tính đột phá và phát triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, phải là sự thay đổi thực chất và đi cùng với đó là phát triển bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam.

Theo đó, để hiện thực hoá được điều này, trước tiên Việt Nam cần có một nền kinh tế cạnh tranh công bằng, minh bạch và sáng tạo. Đây là những động lực thôi thúc doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh để tồn tại.

Lửa cạnh tranh đã cháy đến rất gần. Nói như Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Nam, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ Công Thương: “Doanh nghiệp Việt chỉ có thể lựa chọn thay đổi để cạnh tranh hoặc khó có thể tiếp tục tồn tại”.

Ngọc Hà (Nguồn: DĐ DN)