Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền biển Đông

 

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC ĐẶC BIỆT QUAN TRỌNG

Đất nước Việt Nam với hình chữ S, có bờ biển dài khoảng 3.260 km từ Bắc xuống Nam chiếm tỷ lệ khoảng 100km2 đất liền/ 1 km bờ biển và hơn 3.000 hòn đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam có 28 tỉnh, thành phố giáp biển.

Từ xa xưa, biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Các hải đảo và quần đảo cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta. Trong thời đại hòa bình hôm nay, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và thế giới, biển đảo càng có tầm quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Lịch sử dân tộc đã ghi nhận trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù đối với nước ta, thì có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển. Như vậy có tới 2/3 các cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta và đã bị vùi thây tại những tuyến phòng thủ này.

Bước sang thế kỷ 21, “Thế kỷ của biển và đại dương”, các nguồn tài nguyên trên đất liền đang ngày càng cạn kiệt, vì thế các quốc gia ngày càng quan tâm tới nguồn tài nguyên từ biển cả, nơi bắt đầu các mưu đồ đe dọa hòa bình: Trường Sa - Hoàng Sa giờ đây là tâm điểm.

KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

Gần đây nhất, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi dự lễ mít tinh hưởng ứng Tuần lễ biển, hải đảo Việt Nam và kỷ niệm ngày Đại dương thế giới đã nhấn mạnh, thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương. Thủ tướng đặt ra yêu cầu đối với mục tiêu đưa nước ta sớm trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Đó là đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng và lợi ích quốc gia trên biển bằng các biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế.

“Tôi mong đồng bào cả nước cũng như kiều bào ở nước ngoài cùng đóng góp thiết thực bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Chúng ta phải cùng nhau gìn giữ hòa bình trên mỗi ngọn sóng của biển Đông, là tiền đề để xây dựng nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển” - Thủ tướng nhấn mạnh.

Thủ tướng khẳng định Việt Nam ủng hộ các nước có lợi ích ở biển Đông có những hành động thiết thực góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không và bảo vệ môi trường biển. Mục tiêu đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% GDP và 60% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Thủ tướng yêu cầu huy động, thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế biển. Tạo thuận lợi cho người dân bám biển, phát triển kinh tế biển và làm giàu từ biển

Tại cuộc họp Chính phủ thường kỳ ngày 4/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói Việt Nam đã “đấu tranh bằng mọi biện pháp” để chống lại các hoạt động vi phạm chủ quyền trên Biển Đông trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục các hoạt động “bất hợp pháp” trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ mặc dù có những diễn biến phức tạp, nhưng các lực lượng chức năng đã làm hết sức mình dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ”- Thủ tướng nhấn mạnh.

Trước đó vài tuần, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cũng đã “bày tỏ quan ngại nghiêm trọng” về hoạt động khảo sát của tàu thăm dò Hải Dương 8 trong một cuộc họp kín với người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Bangkok hôm 1/8.

Tuy nhiên, chưa đầy một tuần sau khi rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, ngày 13/8/2019 tàu khảo sát Hải Dương 8 và một số tàu hộ tống của Trung Quốc đã trở lại hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam. Đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền  và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

“Việt Nam đã nhiều lần giao thiệp với phía Trung Quốc về vấn đề này. Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, không có các hành vi làm gia tăng căng thẳng, gây phức tạp tình hình, đe dọa đến hòa bình, ổn định và an ninh  ở Biển Đông cũng như ở khu vực”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng ngày 22/8 nêu rõ.

TIẾNG NÓI BẢO VỆ CHÍNH NGHĨA Ở BIỂN ĐÔNG

Cũng trong ngày 22/8 (theo giờ Mỹ), trong một tuyên bố gửi đến báo chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Morgan Ortagus nhấn mạnh các hành động của Trung Quốc đã đặt câu hỏi nghiêm túc  về những cam kết của Bắc Kinh, bao gồm Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông và đối với việc giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp trên biển.

Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định: “Các hành động của Trung Quốc cản trở hòa bình và an ninh khu vực, gây tổn thất kinh tế cho các quốc gia Đông Nam Á bằng cách ngăn chặn quyền của các nước này tiếp cận các nguồn tài nguyên hydrocarbon ước tính trị giá 2.500 tỷ USD chưa được khai thác. Các hành động này cũng cho thấy Trung Quốc phớt lờ quyền của các quốc gia trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế của mình được quy định tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 mà Trung Quốc phê chuẩn năm 1996”.

Thông cáo cũng nhấn mạnh: “Trung Quốc sẽ không giành được lòng tin của các nước láng giềng và sự tôn trọng của cộng đồng quốc tế bằng việc duy trì các chiến thuật bắt nạt. Các hành động của Trung Quốc nhằm ép buộc các nước ASEAN, xây dựng hệ thống quân sự tấn công và thực thi yêu sách hàng hải bất hợp pháp làm tăng nghi ngờ nghiêm trọng về uy tín của nước này”.

Bình luận về các tuyên bố của Mỹ, Tiến sĩ Phạm Lan Dung - Tổng Thư ký Hội Luật Quốc tế Việt Nam cho rằng, từ góc độ chính trị quốc tế, việc các quốc gia tuyên bố thể hiện quan ngại trước hành động vi phạm luật quốc tế của một quốc gia đối với quốc gia khác, cũng như yêu cầu ngừng hành động vi phạm là hoạt động thường xảy ra trong quan hệ quốc tế.

“Lập trường của Mỹ không đứng về bên nào trong tranh chấp ở Biển Đông xuất phát từ việc Mỹ không có yêu sách trong các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Tuy nhiên, khi những tranh chấp không liên quan đến chủ quyền lãnh thổ có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Mỹ ở Biển Đông thì Mỹ vẫn luôn nêu rõ lập trường, quan điểm và có các hành động bảo vệ lợi ích của mình, cụ thể là việc tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOP)”- Tiến sĩ Lan Dung nói.

SỬ DỤNG BIỆN PHÁP PHÁP LÝ ĐÚNG QUY ĐỊNH LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Trong cuộc họp báo ngày 22/8, khi được hỏi về thông tin cho rằng Việt Nam đang  cân  nhắc để kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết: “Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, các lợi ích và quyền lợi hợp pháp của Việt Nam bằng các  biện pháp hòa bình theo đúng các quy định của luật pháp quốc tế”.

Theo Tiến sĩ Lan Dung, các biện pháp pháp lý, cụ thể là việc giải quyết tranh chấp ở các tòa án, tòa trọng tài quốc tế là một trong các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được quy định tại Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc, tại Mục 2 phần XV UNCLOS 1982. Hòa bình giải quyết tranh chấp là một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và là nghĩa vụ mà các quốc gia phải tuân thủ.

Việc tiếp cận theo tinh thần thượng tôn pháp luật, sử dụng các biện pháp pháp lý đem đến những lợi ích to lớn cho tất cả các quốc gia trong tranh chấp, cho dù phán quyết có nghiêng về bên nào. Tuy nhiên, cũng có những thách thức nhất định đối với việc sử dụng các biện pháp pháp lý.

Bất cứ quốc gia nào đều cần cân nhắc thận trọng các khía cạnh có thể ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia một cách tổng thể để đưa ra quyết định có sử dụng biện pháp pháp lý hay không và cần có quyết tâm cao của nhà nước cũng như xã hội. Điều này cũng đòi hỏi sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng, sự tham gia của đội ngũ chuyên gia pháp lý chuyên môn cao cũng như cần sự chuẩn bị để xử lý các vấn đề có thể phát sinh.

                                                                                                                                                                  KIỀU LAN