Bùi Viện: Nhà ngoại giao Việt Nam đầu tiên đến Mỹ

 

Theo tộc phả, họ Bùi quê gốc ở Thanh Hóa, di cư đến Thái Bình từ triều Lê và đến định cư ở Trình Phố vài đời trước. Bùi Viện là đời thứ tám tính từ khi thiên di. Ông là con trưởng của Bùi Ngọc (tức Việp). Bùi Viện đỗ Tú tài năm Giáp Tí (1864), đỗ Cử nhân năm Mậu Thìn (1868) nhưng không đỗ Tiến sĩ. Bùi Viện được đánh giá là một nhà canh tân lỗi lạc kiêm nhà kinh tế, ngoại giao của Việt Nam cuối thế kỷ XIX.

Sau khi 6 tỉnh Nam kỳ rơi vào tay thực dân Pháp, tháng 7/1873, theo giới thiệu của một vị quan đại thần, vua Tự Đức chính thức cử Bùi Viện đi ra nước ngoài tìm hiểu tình hình, hy vọng có thể dựa vào một nước có tiềm lực lớn nhằm làm đối trọng, giảm bớt áp lực của Pháp vốn đang ráo riết thực hiện âm mưu chiếm nốt Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Cũng như một số nhà nho tiến bộ, Bùi Viện có chủ trương muốn thắng Pháp phải canh tân đất nước nhưng cách làm của ông khác biệt so với những nhà nho có tư tưởng canh tân khác. Ông “Chủ trương dùng chính sách ngoại giao khôn khéo, giao thiệp với các nước có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhằm làm cân bằng ực lượng để chế ngự người Pháp đang gây áp lực buộc triều đình Huế đầu hàng”. Ông không cầu viện các nước ở phương Đông như các nhà nho đương thời, ông có tư tưởng cầu viện Mỹ.

Từ cửa biển Thuận An (Huế), sau hai tháng, Bùi Viện đến được Hương Cảng (Hồng Kông). Tại đây, Bùi Viện đã gặp gỡ và quen thân với một viên Lãnh sự Mỹ. Vị Lãnh sự Mỹ này có mẹ là người Hoa nên rất thông thạo tiếng Hán. Qua người bạn này, Bùi Viện biết Mỹ trước đây là một nước lạc hậu và cũng chịu cảnh chia rẽ Nam Bắc như Trịnh - Nguyễn, nhưng đến nay đã thống nhất đất nước và phát triển thịnh vượng. Bùi Viện coi đây như là tấm gương để học tập. Ông quyết định không sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh như một số người đã làm mà sang Mỹ - một đất nước hoàn toàn xa lạ với người Việt lúc đó.

Nhờ sự giúp đỡ của viên lãnh sự Mỹ đó, Bùi Viện có được lá thư viết cho một người bạn vốn là người gần gũi với Tổng thống Mỹ. Ông đi sang Nhật rồi đi theo thuyền buôn Mỹ vượt đại dương sang Mỹ. Sau gần một năm kiên trì vận động, năm 1873, Bùi Viện đã được Tổng thống Ulysses Simpson Grant (1822 - 1885) tiếp. Lúc này Pháp và Mỹ đang tranh giành thuộc địa ở Mexico nên Mỹ cũng tỏ ý muốn giúp một quốc gia châu Á đang bị Pháp uy hiếp. Nhưng không may là Bùi Viện không mang theo quốc thư nên hai bên không thể có một cam kết chính thức. Vì vậy, ông lại phải lặn lội ngược về Việt Nam trở lại kinh thành Huế.

Năm sau (1875), Tự Đức ban cho Bùi Viện chức Khâm sai đại thần, cầm đầu đoàn sứ giả mang quốc thư trở lại Mỹ. Nhưng lần đi này, tình hình thế giới đã biến chuyển bất lợi cho nước ta, Mỹ đã thay đổi chính sách, thân thiện với Pháp nên tuy Tổng thống Grant vẫn niềm nở tiếp Bùi Viện và đoàn sứ bộ của ta, nhưng từ chối viện trợ cho Đại Nam chống Pháp. Bùi Viện đành tay không trở về Tổ quốc. Đến Đà Nẵng, nghe tin mẹ mất, Bùi Viện ra Huế tâu vua về chuyến công du bất thành và xin về thọ tang mẹ. Tự Đức đã có lời phê đầy cảm khái: "Trẫm đối với ngươi chưa có ân nghĩa gì, mà ngươi đã coi việc nước như việc nhà, không quản

xa xôi lo lắng, quỉ thần ắt cũng chứng cho". Ba tháng sau, Bùi Viện lại được triệu về kinh đô giữ chức Thương chánh tham biện rồi chuyển sang chức Chánh quản đốc nha Tuần hải. Chuyến công du không thành nhưng Bùi Viện đã tỏ rõ một tinh thần kiên định, một ý chí sắt đá vì quốc gia, dân tộc.

Sau khi về nước, Bùi Viện đề xuất với vua Tự Đức tư tưởng canh tân đất nước táo bạo mà nói như cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến thì Bùi Viện đã “Làm việc chửa ai từng làm. Dọc đất ngang trời trơ trí lớn”. Trong khi các tư tưởng canh tân đất nước đương thời như của Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đức Hậu, Trần Đình Túc, Đinh Văn Điền không được vua Tự Đức chấp nhận thì các đề nghị cải cách của Bùi Viện tuy không có bề rộng nhưng táo bạo gắn với thực tiễn đất nước (như cải cách và trang bị cho lực lượng hải quân, tăng cường phòng vệ vùng biển, đặc biệt là vấn đề kinh tế xã hội biển) được vua Tự Đức cho thi hành.

Về quân sự, tháng 8-1876, vua Tự Đức giao cho ông trách nhiệm tổ chức Nhu tuần tải và cử ông làm Chánh quản đốc trực tiếp phụ trách. Với nhiệm vụ này, ông đã thành lập được đội Tuần dương quân với lực lượng chủ yếu là dân chài lưới rất thông thạo sông biển. Nhiệm vụ của Tuần dương quân là vừa tuần tiễu suốt miền duyên hải, vận tải lương tiền cho nhà nước, vừa hộ vệ cho các thuyền buôn. Lực lượng này đóng đồn chính tại cửa Ba Lạt (cửa biển giáp ranh hai tỉnh Thái Bình và Nam Định) nhưng tại các bến Ninh Hải (Hải Phòng), Quảng Nam, Đà Nẵng… Bùi Viện đều đặt thêm các đồn quan phòng. Lực lượng do Bùi Viện trực tiếp chỉ huy gồm hơn 2.000 quân và 200 chiếc thuyền lớn chia làm hai đoàn: đoàn toàn người Hoa gọi là Thanh đoàn, đoàn toàn người Việt gọi là Thủy dũng. Đoàn nào cũng được cấp lương bổng, trang bị đầy đủ, có kỷ luật nghiêm và huấn luyện chu đáo. Nhờ có tuần dương hạm mà hải tặc bị dẹp yên, không dám hoành hành, tạo điều kiện cho việc buôn bán bằng đường biển thuận lợi 

Về kinh tế, năm 1876, Bùi Viện được triều đình giao giữ chức Tham biện thương chính. Ông đã đề nghị triều đình làm gấp hai việc: mở mang đường thủy, cho đào sông vét ngòi; mở hải cảng, lập bến sông. Theo ông, muốn mở mang buôn bán phải có hệ thống giao thông tốt, phải tổ chức thủy đội tiễu trừ giặc biển, bảo vệ thuyền buôn đi lại ngoài khơi. Từ đó, phát triển lực lượng này thành lực lượng thủy quân hùng mạnh cho đất nước.

Bùi Viện còn lập ra “Chiêu dương thương cục”. Đây là công ty buôn lớn tổ chức việc buôn bán giữa Việt Nam và Trung Quốc, sản phẩm trao đổi chủ yếu là bán nông thổ sản và mua về hàng gốm sứ, tơ lụa… Ông là người có công sáng lập ra cửa biển Hải Phòng mà đương thời gọi là bến Ninh Hải.

Sách “Bùi Viện với cuộc Duy Tân triều Tự Đức” của Phan Trần Chúc có ghi lại sự kiện này như sau: “Bến Ninh Hải là một thôn nhỏ thuộc địa phận tỉnh Hải Dương gần với cửa Cấm. Cho mãi đến đời Tự Đức, người Việt Nam tuyệt nhiên không ai để ý đến cái địa điểm nhỏ mọn này. Ninh Hải chỉ là chỗ hội họp của mấy nhà thuyền chài kiếm ăn ngoài bể hoặc trên các sông con. Giang sơn của họ là mấy chái lều tranh ẩn dưới bụi lau rậm, phủ lấy những đống bùn lầy chạy suốt miền duyên hải. Công việc mà Bùi Viện thực hiện là đổi đống bùn lầy Ninh Hải làm một hải cảng trong có thành phố, có cơ quan Chính phủ như thương chính và nhất là những đường lối ở cả trên bộ lẫn dưới nước để làm một thương cảng kiêm quân cảng, có thể làm cửa ngõ của xứ Bắc Kỳ và là nơi giao thiệp với các nhà buôn ngoại quốc” (tr.18). “Bùi Viện đã hăng hái mộ binh lính, dân phu, ra sức đào sông tháo nước ra biển, vượt đất lên cao làm vườn tược hay nền móng nhà. Chẳng bao lâu vùng bùn lầy hẻo lánh ít ai biết đến này đã trở nên đông đúc với đường đi lối lại trên bộ dưới nước thuận tiện, có thương điếm đánh thuế tàu thuyền ra vào, có cơ quan phòng thủ phụ trách việc giữ an ninh trong vùng, gọi là Hải biên phòng thủ (Hải Phòng) (tr.47).

Những đề nghị cải cách của ông thể hiện tư tưởng của một con người hành động, gắn lý luận với thực tiễn, không giới hạn mình trong những văn bản gửi triều đình. Chủ trương vươn ra biển chiếm lĩnh và làm chủ lãnh hải là một quyết định khá mạnh dạn, có ý nghĩa đi trước thời đại. Tuy nhiên, những ý tưởng canh tân táo bạo của Bùi Viện mới thực hiện được trong thời gian ngắn ngủi chưa đầy 10 năm thì ông đột ngột mất vào năm Mậu Dần 1878 ở tuổi 40 tràn đầy nhiệt huyết, bỏ lại sau lưng một sự nghiệp dang dở...