Nguyễn Công Trứ: nhà khẩn hoang kiệt xuất

 

Có thể khẳng định Nguyễn Công Trứ là một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Việt Nam. Người gồm đủ lập đức, lập công và lập ngôn. Theo quan niệm của người xưa, Nguyễn Công Trứ quả là bậc thánh nhân quân tử - người có đủ hoặc noi theo tam lập. Lập đức tức xây dựng nền tảng đạo đức, còn có nghĩa là nêu gương về sự làm quan liêm khiết, nền tảng phép tắc trị nước là việc của bậc thánh nhân; lập công là việc của người anh hùng, lập ngôn là việc của kẻ sĩ.

Sách “Đại Nam liệt truyện” đã đánh giá về Nguyễn Công Trứ như sau: “Công Trứ là người trác lạc, có tài khí… Trứ làm quan thường bị bãi cách rồi được cất nhắc lên ngay; Tỏ sức ở chiến trường, nhiều lần lập được công chiến trận. Buổi đầu Trứ lĩnh chức doanh điền, sửa sang mới có trong một năm mà các việc đều có đầu mối, mở mang ruộng đất, tụ họp lưu dân, thành ra mối lợi vĩnh viễn. Khi tuổi già về nghỉ, tức thì bỏ qua việc đời, chơi thú sơn thủy, trải hơn 10 năm có cái hứng thú phớt thoảng ra ngoài sự vật”.

Năm 1803, nhân Gia Long ra Bắc, ông dâng 10 kế sách làm cho nước thái bình. Ông giữ chức tổng đốc nhiều tỉnh, thượng thư hai bộ. Về công trạng, thì ông đã đánh đuổi quân Xiêm, đánh dẹp các cuộc bạo loạn để ổn định chính trị; Lập nên huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) và một tổng của huyện Giao Thủy (Nam Định).

Năm 1820, ông được bổ quan, giữ chức Hành tẩu Quốc sử quán. Sau đó ông giữ chức Tri huyện Đường Hào, Hải Dương (1823) rồi thăng đến Tổng đốc, Thượng thư… Qua nhiều thăng trầm, năm 1848, khi tròn 70 tuổi, ông được nghỉ hưu khi đang làm chức Phủ doãn (tỉnh trưởng) Thừa Thiên. Ông có nhiều công trạng trong việc đánh giặc ngoại xâm, dẹp loạn, khai khẩn đất đai, thủy lợi, công trạng của ông, dân gian mãi còn ghi nhớ.

bia tưởng niệm Nguyễn Công Trứ tại huyện tiền hải

Là một nhà nho, một ông quan đa tài nhưng trong cuộc đời ông, sự nghiệp lừng lẫy nhất chính là việc lãnh đạo tổ chức khai hoang, lập ra hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. Có thể nói, dưới thời Nguyễn, Nguyễn Công Trứ là người hoạt động tích cực nhất cho sự nghiệp biến những khu đất hoang thành ruộng đồng phì nhiêu. Ngoài nông dân lưu tán, Nguyễn Công Trứ còn chú trọng huy động cả quân lính vào công cuộc khẩn hoang.

Biến những khu đất hoang thành ruộng đồng phì nhiêu, mở rộng diện tích canh tác, đem lại nguồn tô thuế cho nhà nước, góp phần ổn định đời sống nhân dân, ổn định tình hình chính trị xã hội... đó là những thành quả có được từ công cuộc khẩn hoang và là bằng chứng cho thấy sự đa tài của Nguyễn Công Trứ.

Nguyễn Công Trứ với tính khí khảng khái, phong nhã nên lận đận trên con đường khoa bảng và cả chốn quan trường, mãi năm 42 tuổi mới đỗ Giải nguyên. Làm quan triều Minh Mệnh và Thiệu Trị (nhà Nguyễn) trải qua các chức Lang Trung Bộ Lại, Tư nghiệp Quốc Tử Giám (1824), Tham tri bộ Hình, rồi thăng lên Hữu tham tri bộ Hình, có lúc bị giáng xuống làm Lang trung bộ Binh và lần lượt bị cách mọi chức vụ xuống làm lính thú. Nhưng chính ông là người nhìn thấy nguyên nhân sâu sa của các cuộc khởi nghĩa nông dân, đó là vì cuộc sống, vì vấn đề ruộng đất. Khác với các cuộc khẩn hoang từng diễn ra trước đó, theo đề nghị của Nguyễn Công Trứ, nhà nước phong kiến đã cấp tiền công để chiêu mộ dân nghèo, mở kho cung cấp nhu phí cho dân, đánh dấu bước phát triển mới trong chính sách khai hoang trong lịch sử dân tộc, thuận lòng người, được nhân dân hướng mộ. Ông được phép triều đình tập hợp dân lưu tán (cả các nghĩa binh Phan Bá Vành) để mở đất Tiền Châu. Vua Minh Mệnh giao cho ông làm Doanh điền sứ. Công cuộc chinh phục bãi biển Tiền Châu được khởi công từ tháng 3/1822 đến 8/1828 thì hoàn thành. Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ, triều đình nhà Nguyễn đã phê chuẩn lập huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định. Đến năm 1890 là 1 huyện của tỉnh Thái Bình. Huyện lỵ ban đầu đặt tại làng Phong Lai, đầu đời Tự Đức chuyển về làng Hoàng Tân (thị trấn Tiền Hải ngày nay). Để tỏ lòng tri ân công lao của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ và những nguyên mộ, tòng mộ, lập ra các làng, ấp của huyện Tiền Hải trong cuộc khẩn hoang, hầu hết các làng xã của Tiền Hải đều lập đình, đền, miếu thờ Nguyễn Công Trứ và các nguyên mộ, tòng mộ.

Theo thống kê chưa đầy đủ, Tiền Hải có 108 đình, đền, miếu thì đã có 41 đình, đền, miếu thờ Nguyễn Công Trứ và các nguyên mộ, tòng mộ. Trong đó, có 3 khu di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Ngoài ra, đã có 20 di tích có nội dung lịch sử thờ Nguyễn Công Trứ và các nguyên mộ, tòng mộ đã được xếp hạng cấp tỉnh. Hiện nay, các thiết chế văn hóa liên quan đến cuộc khẩn hoang thành lập làng, xã, thành lập huyện Tiền Hải, thờ Nguyễn Công Trứ và các nguyên mộ, tòng mộ đã và đang được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương bảo tồn, phát huy giá trị, giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau. Đây cũng là tiềm năng phong phú để Tiền Hải khai thác, phát triển du lịch.

190 năm đã trôi qua, sự ra đời và phát triển rực rỡ của huyện Tiền Hải, khẳng định truyền thống lao động sản xuất khai hoang lấn biển lập làng của cư dân Thái Bình trong lịch sử, đồng thời ghi nhận vai trò to lớn của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, một dấu son trong lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh Thái Bình.