Nhiệt điện Cao Ngạn thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường

 

Biện pháp tích cực xử lý thu gom tro xỉ và nước tràn

Để khắc phục tiếng ồn khi xe vận chuyển tro xỉ đổ thải tại bãi tập kết tro xỉ, Công ty đã chủ động ban hành các văn bản chỉ đạo yêu cầu lái xe vận chuyển tro xỉ phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của Công ty về đảm bảo môi trường, hạn chế tiếng ồn phát sinh trong quá trình vận chuyển và đổ thải. Bên cạnh đó, Công ty đã đầu tư lắp đặt hệ thống camera nhằm giám sát từ xa việc vận chuyển, đổ thải tại bãi tập kết tro xỉ để xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm các quy định về đảm bảo môi trường.

Trong công tác thu gom tro xỉ và nước tràn trong mặt bằng khu vực tập kết tro xỉ cũng được Công ty hết sức quan tâm và có các biện pháp xử lý tích cực.

Nhằm đảm bảo tốt hơn trong công tác sản xuất và bảo vệ môi trường, Công ty đã có văn bản đề xuất với UBND tỉnh Thái Nguyên để đề nghị xin thay đổi nội dung trong báo cáo ĐTM của dự án với các nội dung như thay thế đê quai kè bằng công trình đê quai đất sét được đầm nén chặt; thi công hồ gom nước thể tích 3.000 m3 có lót đáy bằng nhựa HDPE dày 1.5mm để chống thấm.

Ngày 23/5/2018, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có công văn số 1890/ UBND - CNN về việc thay đổi nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường của Dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất Vật liệu không nung và bãi tập kết nguyên liệu, qua đó UBND tỉnh Thái Nguyên chấp thuận cho Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn - TKV thực hiện các nội dung thay đổi trên so với ĐTM ban đầu. Để thực hiện, ngày 31/7/2018, Công ty đã ký hợp đồng với đơn vị có năng lực để thực hiện thi công xây dựng hồ gom nước với các nội dung công việc như phần bờ của hồ gom nước đã được tạo hình và đầm nén chặt; tạo mặt phẳng và đầm nén đáy hồ được một nửa diện tích thi công; lót tấm nhựa HDPE có diện tích 3.000 m2 (dày 1,5 mm). Dự kiến toàn bộ công việc sẽ hoàn thành trong quý IV năm 2018.

Thực hiện theo quy định, Công ty đã tiến hành quan trắc môi trường 3 đợt, cụ thể đã thực hiện việc quan trắc mẫu nước ngầm ngoài dự án với tần suất 1 lần/năm. Kết quả theo báo cáo quan trắc đều đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép. Trong đợt quan trắc trong quý III/2018, Công ty cũng đã lấy bổ sung thêm mẫu nước ngầm tại giếng đào của nhà bà Phó Thị Sinh, xóm Ao Vàng, xã Cao Ngạn vào ngày 23/8/2018 với sự chứng kiến của cán bộ phụ trách môi trường xã Cao Ngạn, bà Phó Thị Sinh và những người sống cùng khu. Kết quả cho thấy các chỉ số đều nằm trong giới hạn cho phép.

Xử lý triệt để nguồn nước thải

Nước thải của 2 lò đốt của Công ty Nhiệt điện Cao Ngạn thải ra khoảng 240 m3/ngày đêm. Để xử lý triệt để nguồn nước thải, Công ty có riêng một phân xưởng xử lý nước thải với thiết bị tự động hoá hoàn toàn. Lượng nước thải sau khi xử lý được tái sử dụng tạo thành một vòng tuần hoàn kín, chỉ còn một lượng rất nhỏ nước thải ra môi trường. Qua phân tích, các mẫu nước thải của hệ thống này đều đạt tiêu chuẩn quy định.

công tác bảo vệ môi trường luôn được công ty quan tâm vì mục tiêu phát triển bền vững

Bên cạnh đó, dây chuyền công nghệ của Công ty cũng được thiết kế sử dụng đá vôi lẫn với than để khử lưu huỳnh ngay trong buồng đốt, giải quyết triệt để vấn đề phát thải khí lưu huỳnh, đảm bảo hàm lượng lưu huỳnh thải luôn đạt quy chuẩn môi trường theo quy định. Công ty cũng sử dụng các hệ thống điều khiển đo lường hiện đại của Mỹ, với các hệ thống PLC và DCS điều khiển toàn bộ hoạt động của nhà máy thông qua phòng điều khiển trung tâm và các trạm điều khiển hệ thống.

Căn cứ vào đặc thù cũng như điều kiện sản xuất kinh doanh của từng đơn vị, Công ty xây dựng kế hoạch bảo đảm ATVSLĐ - môi trường chi tiết, kỹ lưỡng, phù hợp với quan điểm xuyên suốt là "đảm bảo an toàn - bảo vệ môi trường". Từ kế hoạch bảo đảm ATVSLĐ - môi trường được lập hằng năm, Công ty triển khai ký cam kết chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về ATVSLĐ - môi trường với các phân xưởng, tổ sản xuất để gắn trách nhiệm cũng như nâng cao ý thức tự giác của mỗi cán bộ công nhân viên. Các văn bản như Quy trình kỹ thuật an toàn, quy trình xử lý sự cố thiết bị... được Công ty ban hành, hướng dẫn cụ thể. Công ty cũng định kỳ rà soát, đánh giá thực trạng điều kiện làm việc để đảm bảo trang bị đủ, đúng chủng loại, chất lượng phương tiện bảo vệ cá nhân, đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất và có dự phòng trong quá trình hoạt động.