Doanh nhân Phạm Đình Đoàn: Kinh doanh như một cuộc chạy đua marathon Nỗi bật

Nhân dịp Xuân Ất Mùi 2015, Doanh nhân Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái chia sẻ về cơ hội kinh doanh, cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khi vươn ra biển lớn. Theo ông, muốn trở thành doanh nghiệp vĩ đại cần phải có những bước đi thật vững chắc theo thế “kiềng ba chân”.

Lê Kiên TGA thực hiện

Theo ông Phạm Đình Đoàn, ở Việt Nam bên cạnh những khó khăn, doanh nghiệp có rất nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển. Thứ nhất là chúng ta có vị trí địa lý thuận lợi, nằm giữa trung tâm của giao thương hàng hóa khu vực và châu lục; có dân số đông, thị trường lớn. Mặt khác, trước khi Việt Nam mở cửa và hội nhập quốc tế chưa có nhiều đối thủ cạnh tranh ở nhiều lĩnh vực khác nhau nên rất thuận lợi mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, do nền kinh tế của chúng ta mở cửa muộn nên hầu hết các DN xét về quy mô và thương hiệu đều nhỏ hơn so với các nước trong khu vực. Nguồn nhân lực ở Việt Nam ở mọi cấp độ chưa thể đáp ứng được yêu cầu của hội nhập và cạnh tranh ngày càng khốc liệt như lúc này. Từ công nhân cho đến cấp cán bộ quản lý vừa thiếu, vừa yếu, trình độ, năng lực còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó môi trường đầu tư, thủ tục hành chính, thủ tục hải quan… chưa thực sự thông thoáng, khiến cho doanh nghiệp còn gặp nhiều cản trở.

Cũng vì xuất phát điểm chậm hơn, nguồn nhân lực không đáp ứng được sự kỳ vọng của thời kỳ tăng tốc, do đó các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển thiếu sự tự chủ, hay bị vấp ngã, phát triển không bền vững. Điều này minh chứng Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào ảnh hưởng ở tầm khu vực, châu lục, mặc dù trên thực tế cũng có doanh nghiệp lớn nhưng chỉ lớn so với doanh nghiệp trong nước mà thôi.

Trong những năm qua và đặc biệt khi phải vượt qua thử thách của sự suy thoái suy thoái, khủng hoảng kinh tế, cộng đồng doanh nghiệp cần phải nhìn nhận lại chiến lược phát triển của mình. Kinh nghiệm rút ra là không thể nóng vội và đòi hỏi phải hiểu được giá trị của quy luật phát triển như thế nào? Hơn nữa, khi quyết định đầu tư vào ngành nghề sản xuất kinh doanh nào đó, sự cần thiết của DN là cần phải xác định lĩnh vực mình kinh doanh có nằm trong tốp dẫn đầu được hay không? Nếu không dẫn đầu về quy mô thì phải có lợi nhuận tốt; mức độ chuyên nghiệp hoặc khả năng dịch vụ… phải là những lợi thế dẫn đầu của DN.

Ông quan niệm như thế nào về “DN vĩ đại” và thế “Kiềng ba chân”?

Doanh nghiệp vĩ đại là doanh nghiệp phải có sự phát triển dài hạn, bền vững và có nguồn nhân lực, sản phẩm hàng đầu. Doanh nghiệp muốn phát triển bền vững thì phải có kế hoạch, chiến lược phát triển dài hạn, có nhân lực tốt và có một nguồn tài chính vững mạnh.

Vĩ đại là kết quả của sự lựa chọn nhận thức. Vì thế muốn trở thành một doanh nghiệp vĩ đại thì DN đó phải có một chiến lược quản trị cho việc xây dựng một công ty hùng mạnh để tạo ra những bước nhảy vọt đi đến một kết quả vĩ đại.

Từ một doanh nghiệp nhỏ tiến lên thành một thương hiệu – doanh nghiệp vĩ đại cần phải có những yếu tố cơ bản nào, thưa ông?

Theo tôi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tương tự như một cuộc chạy đua marathon. Do đó, muốn đi từ một doanh nghiệp nhỏ hoặc cỡ vừa tiến lên trở thành doanh nghiệp vĩ đại cần phải có thời gian và thời gian ngắn hay dài tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh cụ thể của từng doanh nghiệp.

Thực ra, Việt Nam có rất nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển, tuy nhiên vấn đề tận dụng cơ hội để cất cánh lại là chuyện khác. Doanh nghiệp Việt Nam muốn vươn ra biển lớn và trở thành doanh nghiệp vĩ đại sự cần thiết phải đi những bước đi thật vững chắc theo thế “kiềng ba chân”.

Nếu doanh nghiệp đang từ nhỏ phấn đấu lên trung bình, lớn và thành vĩ đại phải có sự quan tâm, hỗ trợ một phần nào đấy từ phía Nhà nước. Câu chuyện này ở nước ngoài cũng tương tự, có nghĩa cần sự giúp sức từ bàn tay của Nhà nước mới phát triển và trở thành thương hiệu lớn. Nếu để tự doanh nghiệp chống chọi lại với thương trường là rất khó khăn. Điều này cũng giống như một con thuyền khi vươn ra biển lớn rất dễ bị sóng to, gió lớn nhấn chìm. Vì khi quy mô lớn hơn, tiến ra sân chơi rộng hơn thì ắt hẳn rủi ro, tỷ lệ đổ vỡ sẽ cao hơn. Đặc biệt, khi vươn ra biển lớn đương nhiên gặp phải sự cạnh tranh hay phản kháng gay gắt của các thương hiệu lớn, doanh nghiệp lớn của nước ngoài… Do đó, rất cần có sự quan tâm của Nhà nước mới trụ vững và phát triển lớn mạnh được.

Có một thực trạng là các DN Việt Nam khi phát triển đến quy mô lớn thường hay bị nước ngoài thâu tóm hoặc bị phân tán dần. Ông có suy nghĩ gì về vấn đề này?

Theo tôi, trên thương trường, sự mua bán hay sáp nhập đều là hoàn toàn bình thường. Có điều, những ngành nghề rất nhạy cảm phải cần được Nhà nước thông qua. Một DN được đánh giá cao và bán được giá cao chính là “đỉnh cao nhất” của sự quản lý và phát triển doanh nghiệp. Rõ ràng những DN một khi đã phát triển đến một quy mô nhất định và đứng đầu trong lĩnh vực mà mình sản xuất kinh doanh thì có giá trị rất lớn. Đây là những điển hình xây dựng DN và thương hiệu mà cộng đồng DN cần học hỏi.

DN Việt Nam và người Việt Nam có thể tạo dựng được một thương hiệu từ 1 sao lên 3 sao. Tuy nhiên, khi từ 3 sao lên 5 sao thì kỹ năng cần phải có sự thay đổi rất cao. Nếu người Việt Nam không làm được thì cần phải nhờ đến người nước ngoài, chỉ có cách này thì may ra mới có cơ hội để phát triển lên một tầm cao hơn nữa. Tuy nhiên, để nước ngoài họ quan tâm đầu tư vào doanh nghiệp thì cũng cần phải lưu ý rằng, họ rất quan tâm đến doanh nghiệp và người làm chủ của doanh nghiệp (bộ máy lãnh đạo và vận hành) là quan trọng nhất. Trong đó họ rất đề cao tính chuyên nghiệp và tính minh bạch; tính pháp luật và tính đạo đức của doanh nghiệp. Khi những tiêu chí này được thẩm định kỹ lưỡng thì giá trị doanh nghiệp, giá trị thương hiệu sẽ được mua cao hơn.

Các DN Việt Nam hiện nay cũng đã thấm nhuần được điều này, do đó đang tranh thủ sự hỗ trợ, ủng hộ của Nhà nước hoặc để tồn tại và phát triển mạnh hơn nữa dựa vào yếu tố nước ngoài về các nguồn tài chính để đảm bảo sự an toàn bền vững. Vì thực tế các doanh nghiệp của chúng ta đa số đều cỡ vừa, do đó khi phát triển lên tầm cao hơn rất lúng túng trong quản lý và điều hành; ngành nghề kinh doanh được mở rộng nhưng để duy trì thì gặp khó khăn về vốn, sản xuất kinh doanh có đầu vào nhưng không có thị trường tiêu thụ… Do đó các ông chủ doanh nghiệp luôn cảm thấy mệt mỏi nên cần phải liên doanh, liên kết, sáp nhập hoặc mong được tiếp sức, trợ giúp từ phía Nhà nước, nhà đầu tư nước ngoài.

Với tư cách là chủ doanh nghiệp, ông có đánh giá như thế nào về nguồn vốn FDI khi Việt Nam đã để tuột đi những cơ hội đầu tư lớn?

Nguồn vốn FDI trong những năm qua đối với nền kinh tế Việt Nam là rất quan trọng. Nguồn vốn này giúp chúng ta đạt được những mục tiêu đề ra trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, để ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần cải thiện hơn nữa về môi trường kinh doanh, cơ chế chính sách, thủ tục hành chính, xử lý nạn tham ô, tham nhũng… Bởi thực tế có rất nhiều tập đoàn lớn mong muốn được đầu tư tại Việt Nam, nhưng khi họ vào tìm hiểu mới nhận ra Việt Nam còn hạn chế về nhiều mặt nên đã chuyển hướng quay sang đầu tư tại các nước khác trong khu vực. Điều này chứng tỏ Việt Nam để tuột đi những con cá thực sự lớn. Cái mà chúng ta vớt được là cá bé, cá vừa. Do đó, vấn đề chính sách vĩ mô và vi mô rất quan trọng. Những năm qua Đảng, Nhà nước có những chiến lược rất tốt ở tầm vĩ mô, tuy nhiên khi triển khai thực hiện ở cấp độ vi mô lại rất phức tạp, gây quá nhiều nhũng nhiễu, phiền hà khiến cho DN ái ngại và vô tình đã làm cản trở về thu hút đầu tư.

Qua 21 năm hoạt động trên thương trường, vậy những lĩnh vực nào được Tập đoàn Phú Thái tập trung hướng đến và chọn làm trọng tâm cho sự phát triển của mình, thưa ông?

Là Tập đoàn kinh doanh trên nhiều lĩnh vực: phân phối, bán lẻ hàng tiêu dùng và thời trang; phân phối máy công nghiệp, thuốc thú y, dược phẩm… Với tầm nhìn: trở thành một tập đoàn phân phối và bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam, trong 21 năm hình thành và phát triển, đến nay Phú Thái đã khẳng định được thương hiệu trên thị trường. Mặc dù còn nhiều khó khăn, tuy nhiên chúng tôi vẫn xác định: “Chuyên nghiệp và quốc tế hóa” đạt được trình độ cao hơn nữa. Có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đặt vấn đề hợp tác với Phú Thái. Song, mình hợp tác được vẫn phải giữ sự chi phối để phát triển. Ví dụ, một DN của Phú Thái chúng tôi liên kết với đối tác Nhật Bản, nhưng chỉ ở mức độ chưa đến 20%, mục đích phát triển theo chiều hướng quốc tế hóa, đồng thời hàng hóa của Phú Thái phát triển ra các nước xung quanh và thị trường Nhật Bản bằng các sản phẩm tốt. Kinh tế Việt Nam phải gắn liền với xuất khẩu, nếu không xuất khẩu thì không thể cất cánh nhanh. Thông qua các hoạt động liên doanh liên kết ở mức đô hợp lý, Phú Thái không chỉ phát triển mạnh mà còn rất bền vững. Đối tác đến với Phú Thái là đến với sự minh bạch, rõ ràng. Hiện, chúng tôi có 5.000 lao động, hàng năm doanh thu hơn 10.000 tỷ đồng. Tới đây, Phú Thái sẽ mở rộng tại thị trường nội địa và vươn mạnh mẽ ra nước ngoài.