"Có sự phân biệt đối xử trong hàng hoá nhập khẩu tại chỗ"

 

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có văn bản trả lời Công văn của Bộ Tài chính về việc lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 134/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu.

Về qui chế đối xử với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ

Dự thảo bổ sung khoản 3, Điều 3 Nghị định 134 quy định về điều kiện hưởng mức thuế suất ưu đãi và ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu tại chỗ. Theo đó, hàng hóa nhập khẩu tại chỗ thuộc trường hợp Điều 35.1.a và Điều 35.1.c Nghị định 08/2015/NĐ-CP được hưởng thuế suất MFN nếu được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam, hoặc được thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng tại Việt Nam. Còn hàng hoá thuộc trường hợp Điều 35.1.b, Nghị định 08 thì được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt nếu có giấy chứng nhận xuất xứ.

thuế ưu đãi đặc biệt thấp hơn thuế suất MFN là nhằm ưu đãi cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất tại các quốc gia trong FTA.

Thuế ưu đãi đặc biệt thấp hơn thuế suất MFN là nhằm ưu đãi cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất tại các quốc gia trong FTA.

Theo VCCI, quy định như vậy là đã có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá nhập khẩu tại chỗ từ khu phi thuế quan và từ nội địa. Theo quy tắc xuất xứ trong các FTA và được quy định tại Điều 3.1, Nghị định 31/2018/NĐ-CP, thì hàng hoá được sản xuất toàn bộ hoặc thực hiện công đoạn chế biến cuối cùng trong nội khối (trong các nước cùng tham gia FTA đó) thì sẽ được hưởng thuế xuất ưu đãi đặc biệt. Theo cách hiểu này, nếu hàng hoá được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam hoặc được thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng tại Việt Nam thì chắc chắn đã có xuất xứ nội khối FTA, không phân biệt trong hay ngoài khu chế xuất. Do đó, nếu hàng hoá này lưu thông trong khối (nhập khẩu tại chỗ vào Việt Nam cũng là lưu thông trong khối) thì phải được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt.

Về mục tiêu, theo VCCI thuế ưu đãi đặc biệt thấp hơn thuế suất MFN là nhằm ưu đãi cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất tại các quốc gia trong FTA. Ví dụ, Việt Nam ký FTA với ASEAN là nhằm ưu đãi cho các quốc gia trong ASEAN. Như vậy, không có lý do gì mà hàng hoá đến từ các quốc gia ASEAN khác được hưởng thuế ưu đãi đặc biệt, mà hàng hoá tương tự đến từ Việt Nam lại phải chịu thuế MFN.

Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo quy định theo hướng, hàng hoá nhập khẩu tại chỗ sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt, bất kể nhập khẩu từ khu chế xuất hay từ nội địa.

Quy định về bảo lãnh tiền thuế xuất nhập khẩu chưa phù hợp

Điều 4.3 của Dự thảo quy định về bảo lãnh tiền thuế xuất nhập khẩu, VCCI có một số góp ý như sau:

Thứ nhất, Dự thảo đưa ra quy định bổ sung Điều 4.2.f, theo đó: Trong trường hợp tổ chức tín dụng cam kết bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết thì cơ quan hải quan sẽ tiến hành các biện pháp cưỡng chế đối với người nộp thuế, chứ không phải đối với tổ chức tín dụng.

Tuy nhiên, theo VCCI, điều này chưa phù hợp với quy định về bảo lãnh tại Điều 355 của Bộ luật Dân sự cũng như Điều 4.2.c của Nghị định 134.

Trong trường hợp này, bên phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thuế cho ngân sách nhà nước phải là bên bảo lãnh (tổ chức tín dụng). Do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi quy định theo hướng, nếu tổ chức tín dụng không thực hiện đúng cam kết thì cơ quan hải quan tiến hành các biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức tín dụng để thu hồi phần nghĩa vụ còn thiếu đối với ngân sách.

Thứ hai, dự thảo đưa ra quy định bổ sung Điều 4.2.g xử lý trường hợp dừng bảo lãnh chung. Đây là quy định rất cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại như quy định tại dự thảo thì chưa giải quyết hết các trường hợp phát sinh trên thực tế.

Dẫn chứng cụ thể VCCI cho biết, khi tổ chức tín dụng có văn bản đề nghị dừng bảo lãnh chung, nhưng chưa thanh toán hết các nghĩa vụ ngân sách thì cơ quan hải quan sẽ không chấp thuận dừng bảo lãnh chung. Khi đó, nếu phát sinh một nghĩa vụ mới (như lô hàng mới nhập khẩu về) thì nghĩa vụ mới đó có được bảo lãnh hay không?

Trường hợp này, đề nghị quy định theo hướng, khi tổ chức tín dụng có văn bản đề nghị dừng bảo lãnh thì cơ quan hải quan chỉ truy thu tổ chức tín dụng những nghĩa vụ ngân sách phát sinh trước thời điểm có văn bản đề nghị dừng bảo lãnh chung, còn những nghĩa vụ phát sinh sau thời điểm đó không thuộc phạm vi bảo lãnh.

Huyền Trang (Nguồn: DĐ DN)